Đắk Nông: Một vụ án có chứng cứ chưa thuyết phục?

Theo luật sư, việc tách 110 triệu đồng trong tổng số nợ 700 triệu đồng để làm căn cứ xác định hành vi cho vay nặng lãi là chưa thuyết phục. 

Tòa trả hồ sơ yêu cầu làm rõ số tiền “vay nặng lãi”

Phán ánh đến Toà soạn Pháp luật Plus (Báo Pháp luật Việt Nam), ông Võ Tư Thiệt (thôn 3, xã Đắk Buk, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắc Nông – là bị cáo trong vụ án hình sự về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” bị Toà án nhân dân huyện Tuy Đức (tỉnh Đắk Nông) cho biết, mình và mẹ (bà Nguyễn Thị Tuyết) bị oan. 

Liên quan đến vụ việc này, ông Nguyễn Xuân Triệu, Thẩm phán TAND huyện Tuy Đức (tỉnh Đắk Nông) cho biết ngày 13/12, TAND huyện đã nhận được cáo trạng truy tố ông Võ Tư Thiệt và bà Nguyễn Thị Tuyết về hành vi “Cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự” do Viện KSND huyện chuyển qua. 

Trước đó, tại phiên Tòa ngày 21/10, TAND huyện Tuy Đức đã ra Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung làm rõ các vấn đề sau: Yêu cầu làm rõ nguồn gốc số tiền 300 triệu đồng của lời khai tại tòa liên quan đến ông Cao Xuân Thủy (nguyên Phó Công an huyện Tuy Đức) cho mượn để trả cho ông Thiệt; Yêu cầu làm rõ Biên bản bắt người phạm tội quả tang của công an huyện Tuy Đức ngày 20/5/2020; Yêu cầu làm rõ số tiền gốc và tiền lãi do ông Thiệt cho ông Sầm Văn Núm vay đầu tư vườn cà phê từ năm 2009; Yêu cầu làm rõ tờ giấy biên nhận tiền của ông Võ Quang Lê là ai yêu cầu viết, mục đích viết là gì và số tiền 300 triệu đồng là nợ gì? Yêu cầu làm rõ nội dung file ghi âm do ông Phùng Lê Hiếu cung cấp cho công an huyện Tuy Đức để tố cáo ông Thiệt. 

Ông Võ Tư Thiệt trao đổi thông tin với phóng viên.

Vụ việc bắt đầu từ năm 2009, ông Thiệt cho ông Núm mượn tiền đầu tư vườn cà phê. Đến tháng 5/2020 ông Núm vay tổng số tiền trên 700 triệu đồng. Từ khi cho mượn đến nay ông Thiệt chưa hề tính lãi mặc dù hai bên có giấy cam kết vay với lãi suất 30%/năm với ông Núm.

Ông Võ Tư Thiệt cho biết: “Việc cho mượn tiền đầu tư vườn cà phê đối với các hộ dân ở H.Tuy Đức của Công ty tôi là khi thanh toán ngoài tiền gốc thì bên nợ phải cộng thêm tiền lãi vì việc đầu tư đối với các hộ dân từ đầu vụ đến lúc thu hoạch mới thanh toán”. 

Đến đầu 2018, ông Núm mượn ông Thiệt 110 triệu đồng (110 triệu đồng này nằm trong tổng số nợ hơn 700 triệu đồng của ông Núm) và cầm sổ đỏ miếng đất nhà ông Núm. Tuy nhiên, giữa ông Thiệt và ông Núm không hề có giấy vay 110  triệu đồng này.

Ông Thiệt thông tin vào ngày 18/5/2020 ông Núm có đi cùng anh Phùng Lê Hiếu, đến nhà gặp mẹ ông Thiệt là bà Nguyễn Thị Tuyết chốt sổ nợ. Ông Hiếu cam kết trả thay cho ông Núm số tiền 579.980.000đ trong tổng số nợ, số còn lại ông Núm trả 440 triệu đồng ( Số tiền này bao gồm một phần nợ gốc là 110 triệu đồng và ước tính lãi cho tổng số nợ hơn 700 triệu đồng từ năm 2009 đến tháng 5/2020). Nguyên nhân ông Hiếu trả nợ thay cho ông Núm là ông Hiếu có mua một miếng đất của con ông Núm.  

Công an huyện Tuy Đức

Theo ông Thiệt, ngày 20/5/2020, ông Núm cùng ông Hiếu mang số tiền 300 triệu đồng lên trả, khi ấy ông Thiệt không ở nhà nên bố mẹ ông Thiệt là ông Võ Quang Lê và bà Nguyễn Thị Tuyết đã nhận thay số tiền trên.

“Lúc nhận tiền bố tôi có ghi lại cho anh Hiếu và ông Núm tờ giấy biên nhận “Đại lý Vũ Hải nhận của ông Hiếu trả nợ cho ông Núm số tiền là: 300 triệu đồng còn lại 140 triệu đồng trả tiếp và lấy sổ chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Núm”. Khi đó Công an huyện Tuy Đức ập vào bắt quả tang. 

Có hình sự hóa vấn đề dân sự?

Ông Thiệt khẳng định số tiền 300 triệu đồng mà ông Hiếu và ông Núm đưa ngày 20/5/2020, không phải là tiền lãi của khoản vay 110 triệu đồng mà là tiền nợ 110 triệu đồng và tiền lãi ước tính của tất cả các khoản mà ông Núm nợ từ năm 2009 (440 triệu đồng mà ông Núm cam kết trả).

“Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, Cơ quan CSĐT đã tự ghi tôi cho ông Núm vay số tiền 110 triệu đồng lãi suất thỏa thuận là 3.000đ/1.000.000đ/1 ngày. Nội dung trên tôi không đồng ý vì không đúng bản chất sự thật khách quan của vụ việc”, ông Thiệt bức xúc. 

Toà án nhân dân huyện Tuy Đức.

Theo ông Thiệt, kết luận điều tra và cáo trạng chỉ đề cập số tiền vay 110 triệu đồng “… Theo như tính toán của Nguyễn Thị Tuyết và Võ Tư Thiệt tổng số nợ cả gốc và lãi là 440 triệu đồng, trong đó tiền gốc là 110 triệu đồng, tiền lãi phát sinh từ ngày 07/01/2018 đến ngày 18/5/2020 là 330 triệu đồng” là không đúng với thực tế tổng số nợ gốc và lãi mà ông Núm vay từ năm 2009.

“Trước khi ông Hiếu và ông Núm đến trả nợ, ông Hiếu gọi điện báo cho tôi và tôi cũng chỉ nói là có bao nhiêu thì đưa bấy nhiêu chứ tôi hoàn toàn không yêu cầu ông Núm phải trả tiền lãi, gốc bao nhiêu”, ông Thiệt giải thích.

: “Trong giao dịch dân sự thì lãi suất cao nhất không được vượt quá 20%/năm tương đương 1,666%/tháng. Nếu lãi suất gấp 5 lần trở lên của mức lãi suất trần và có thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng trở lên thì mới cấu thành tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Như vậy, để xác định một hành vi có dấu hiệu của tội cho vay lãi nặng hay không thì cần căn cứ vào quy định nói trên để làm căn cứ.

Khi điều tra về tội danh này, các cơ quan tiến hành tố tụng cần xác định số tiền gốc cho vay là bao nhiêu, thời hạn vay để từ đó mới làm căn cứ tính lãi suất hàng tháng hoặc hàng năm trên số tiền mà người vay phải trả. Từ đó mới xác định chính xác được mức lãi suất cho vay để làm căn cứ buộc tội.”.

Luật sư bào chữa cho bị can Thiệt cho rằng cơ quan công an không có căn cứ để xác định 300 triệu đồng là số tiền lãi của 110 triệu đồng nợ gốc (lãi là 330 triệu đồng) vì khi ông Thiệt cho ông Núm vay 110 triệu đồng trong một giao dịch khác thì chưa xuất hiện ông Hiếu. Trong khi đó biên nhận nhận 300 triệu đồng không ghi rõ tiền gốc, tiền lãi là bao nhiêu và trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ai. Do đó cơ quan CSĐT chưa có chứng cứ vật chất, chứng cứ buộc tội chưa rõ ràng để chứng minh 300 triệu đồng trên là tiền lãi của 110 triệu đồng mà chỉ dựa vào lời khai một chiều của ông Hiếu, ông Núm. Việc tách 110 triệu đồng trong tổng số nợ 700 triệu đồng để làm căn cứ xác định hành vi cho vay nặng lãi là chưa thuyết phục.

Tại phiên Tòa, bà Triệu Thị Xin (vợ ông Sầm Văn Núm) và bà Nguyễn Thị Duyền (Vợ ông Phùng Lê Hiếu) khai: “Vào ngày 20/5/2020 không làm đơn tố cáo ông Võ Tư Thiệt nhưng do phía Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy Đức đã bắt ép nên buộc họ phải làm như vậy. Còn số tiền 300 triệu đồng trả cho Thiệt là do ông Cao Xuân Thủy – khi đó là Phó trưởng Công an H.Tuy Đức – cho mượn trả cho ông Thiệt”.

Theo nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang thể hiện: Bắt quả tang 3 người phạm tội là ông Thiệt, bà Tuyết và ông Lê và ghi đầy đủ lời khai của 3 người bị bắt này, trong đó ông Thiệt khai: “Bị cáo Thiệt cho ông Núm vay 110 triệu đồng, thỏa thuận lãi suất 3.000/1 triệu đồng/ngày, tính đến ngày 20/5/2020 thì cả gốc và lãi là 440 triệu đồng. Ông Núm hẹn ông Thiệt ngày 20/5/2020 sẽ đến trả nợ, khoảng 8h ngày 20/5/2020 do ông Thiệt đi vắng nên nhờ bố mẹ là ông Lê, bà Tuyết nhận tiền, khi bố mẹ ông Thiệt đang nhận tiền thì bị bắt quả tang”. Biên bản trên đã có sự mâu thuẫn ở chỗ ông Thiệt đã đi vắng thì không thể bắt quả tang ông Thiệt để lấy lời khai (!?).

Theo hồ sơ vụ án thì quan điểm giải quyết vụ án của Cơ quan CSĐT, Viện KSND huyện Tuy Đức không nhất quán, mâu thuẫn như ngày 20/5/2020 bắt quả tang, tạm giữ 3 người là ông Thiệt, bà Tuyết và ông Lê nhưng ngay trong ngày 20/5, Cơ quan CSĐTcó quyết định trả tự do cho cho bà Tuyết, ông Lê với lý do không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Đến ngày 27/5/2020, Cơ quan CSĐT lại khởi tố bà Tuyết và ông Thiệt. Đến ngày 28/5/2021, Viện KSND huyện Tuy Đức lại đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can vì lý do hành vi của các bị cáo không còn nguy hiểm cho xã hội. Viện KSND huyện Tuy Đức hướng dẫn ông Thiệt và ông Núm viết đơn xin miễn và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự.

Ông Thiệt và bà Tuyết không đồng ý với Quyết định này nên khiếu nại đến Viện KSND huyện Tuy Đức và Viện KSND tỉnh Đắk Nông. Đến ngày 24/6/2021, Viện KSND huyện Tuy Đức lại hủy bỏ quyết định đình chỉ và ra quyết định phục hồi điều tra sau đó truy tố vì lý do căn cứ đình chỉ không đúng (!?). Một cán bộ Phòng điều tra Tội phạm của Viện KSND Tối cao cho biết đang xác minh, điều tra vụ việc trên.

Ông Thiệt tâm sự: “Mẹ con chúng tôi đã đi tìm công lý, đi tìm danh dự, kêu oan gõ cửa các cơ quan tư pháp đã đến nay gần hai năm. Mẹ tôi đến nay dư chấn tâm thần không bình thường, công việc kinh doanh của công ty cũng ảnh hưởng nghiêm trọng…”.

Như vậy, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông Thiệt và Tuyết là chưa có căn cứ thuyết phục, thiếu nhất quán và có dấu hiệu oan sai. Báo Pháp luật Việt Nam đề nghị các cơ quan có thẩm quyền cần tiến hành xác minh, làm rõ vụ án để tránh oan sai cho những người liên quan.

“Bắt người phạm tội quả tang”

“Điều 111. Bắt người phạm tội quả tang 1. Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền”.

Như vậy, căn cứ quy định tại khoản 1 điều 111 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì: Bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang là trường hợp người đó đang thực hiện hành vi phạm tội, hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt. Nghĩa là yếu tố “quả tang” được thể hiện ở tính chất cấp thời, đang diễn ra, vừa mới diễn ra ngay tức thì của hành vi phạm tội. Nếu bắt giữ một người mà tại thời điểm bắt giữ họ không phải đang thực hiện hành vi phạm tội hoặc vừa mới thực hiện hành vi phạm tội mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt thì không được xem là “Bắt người phạm tội quả tang”.

Về cấu thành tội “cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự”

Trong vụ án này, để khẳng định hành vi của các bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội “cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự” (được quy định tại điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) hay không, thì cơ quan điều tra cần chứng minh, làm rõ số tiền 300 triệu mà bị cáo Tuyết nhận từ ông Núm và anh Hiếu là trả cho số nợ nào? Là trả lãi hay trả cả gốc và lãi? Vì thực tế giữa ông Núm và các bị cáo Tuyết, Thiệt đã có quan hệ vay mượn trước đó với nhiều khoản vay khác nhau. Vậy số tiền 300 triệu mà cơ quan điều tra xác định là tang vật của vụ án này là trả cho số nợ nào, có chứng cứ gì chứng minh hay không? Nếu chứng cứ buộc tội không vững chắc, sẽ rất khó để Tòa án kết tội vì dễ dẫn đến oan sai./.

Thạc sĩ Tạ Quốc Liễu, Văn phòng Luật sư Nguyên tại thành phố Hồ Chí Minh.

Theo Hoàng Nhiên – Ngọc Anh

Pháp Luật Plus

Link: https://www.phapluatplus.vn/dieu-tra-ban-doc/dak-nong-mot-vu-an-co-chung-cu-chua-thuyet-phuc-d173569.html